Chữa Bệnh đau Lưng đau Cột Sống

Một trong những bệnh xương khớp dễ mắc phải và gặp nhiều nhất hiện nay là đau lưng đau cột sống, vậy cách phòng và chữa bệnh đau lưng đau cột sống như thế nào? Tập thể dục Chọn những môn tập tăng cường sức mạnh và sức chiụ đựng của lưng và giúp các cơ làm việc tốt hơn. Đi bộ và bơi lội là tốt nhất. Luyện tập cơ bụng và lưng để cho các cơ này phối hợp với nhau tạo thành như một cái yếm tự nhiên bảo vệ cho lưng của bạn. Sự mềm dẻo của háng và phần chân trên giúp bạn cảm thấy lưng dễ chịu hơn. Giữ sức cân năng cho vừa phải. Ngồi cho đúng tư thế . Chọn chiếc ghế có cái đỡ lưng dưới , tay tựa và đế xoay đươc. Chêm một cái gối hay một cái khăn cuốn phiá sau lưng dưới để giữ cho độ cong của lưng đươc bình thường.

Đẩu gối và hông phải ngang nhau. Một chuyên viên vật lý trị liệu bị đau lưng có thể dùng những liệu pháp như kích thích và thư dãn cơ bẳng nhiệt, nước đá, siêu âm hay điện để giảm đau nơi các cơ và các mô mềm ở lưng. Nếu các phương pháp trên không giảm đau và nếu đau truyền xuống tới chân thì bác sĩ có thể phải tiêm cortisone vào vùng quanh dây cột sống (vùng ngoài màng cứng- epidural space). Thuốc cortisone giúp giảm viêm xưng quanh các rễ dây thần kinh nhưng chỉ giảm đau đươc dưới 6 tháng. Trong vài trường hợp, bác sĩ có thể tiêm thuốc gây tê vào ngay chỗ hoặc gẩn cấu trúc gây ra đau lưng. Không có mấy người cẩn phải mổ vì đau lưng. Hiện không có kỹ thuật giải phẫu nào có hiệu quả đối với bệnh đau lưng liên quan tới các cơ và mô mềm. Thường ra giải phẫu chỉ dùng cho trường hợp đĩa đệm bị thoát vị ( herniated disk). Ai mà bị đau không ngừng hoặc có cơ bị yếu dẩn do sự đè nén dây thẩn kinh thì tốt nhất là nên phẫu thuật. Trong hai phương pháp phòng và chữa bệnh đau lưng đau cột sống trên đây, chắc chắn một điều rằng phòng bệnh dễ thực hiện và đem lại hiệu quả tốt hơn. Do đó các bạn nên chú ý để có một cơ xương thật khỏe mạnh.

Các đau như vậy có thể do lao cột sống, ung thư cột sống, viêm đĩa đệm hoặc thân đốt sống do vi khuẩn. Đau thắt lưng cấp hoặc bán cấp thường kèm theo co cứng khối cơ thắt lưng, sờ nắn thấy khối cơ thắt lưng cứng chắc, tư thế cột sống lệch vẹo. Người bệnh làm các động tác cúi, ngửa, nghiêng, xoay cột sống bị hạn chế và đau tăng. Cột sống cứng, mất đường cong bình thường. Các triệu chứng trên rất rõ khi đau thắt lưng cấp, nhẹ khi đau thắt lưng bán cấp. Dùng ngón tay ấn hoặc dùng búa phản xạ gõ nhẹ vào đầu các mỏm gai sau, hoặc ấn vào cạnh cột sống khe giữa hai đốt sống, có thể tìm thấy điểm đau. Khởi phát đau: thường gặp khởi phát từ từ và hay tái phát, thường do thoái hóa đĩa đệm cột sống (hư đĩa đệm). Cường độ đau: đau có thể nhẹ, từ từ, với đặc điểm đau ê ẩm, căng tức, nhức mỏi, thường do thoái hóa đĩa đệm.

Các đau mạn tính thường nhẹ, hay tái phát, người bệnh vẫn có thể đi lại, sinh hoạt được. Đau giảm hoặc hết khi nằm nghỉ, đau tăng lên khi vận động, đi lại nhiều, ngồi hoặc đứng lâu ở một tư thế. Đau mạn tính thường do thoái hóa đĩa đệm. Đau tại thắt lưng, có thể không có hội chứng rễ thần kinh hoặc kèm theo hội chứng rễ (đau lan theo rễ, dây thần kinh xuống mông, đùi, cẳng chân). Đau không có hội chứng rễ, chỉ khư trú ở vùng cột sống và cạnh cột sống thắt lưng. Đau chỉ xuất hiện khi các cấu trúc nhậy cảm đau của cột sống bị tổn thương trực tiếp hoặc tổn thương ở khu vực khác lan tới. Đau có thể xuất phát từ dây chằng dọc sau, màng cứng của tủy sống, màng xương, gân, dây chằng, các cơ cạnh cột sống, khớp đốt sống và các cấu trúc cạnh khớp. Đau tại chỗ rễ thần kinh bị tổn thương và lan dọc theo đường đi của dây thần kinh thuộc rễ đó.

D

Gây bại hoặc liệt, teo các cơ do dây thần kinh của rễ đó chi phối và làm giảm hoặc mất phản xạ gân xương tương ứng. Tê bì, giảm cảm giác vùng da do các dây thần kinh của rễ đó chi phối. Đau có tính chất nhức nhối, buốt, giảm hoặc không đau khi nghỉ, khi ở tư thế làm chùng dây thần kinh (gấp gối và hông). Rễ L5 chui qua khe gian đốt L5 – S1, chi phối cảm giác da dọc mặt ngoài đùi, mặt ngoài cẳng chân tới mắt cá ngoài, mu bàn chân, ngón chân cái và ngón thứ hai. Thoát vị đĩa đệm L4 – L5 sẽ gây chèn ép rễ L5, bệnh nhân sẽ thấy tê bì, giảm cảm giác các vùng này. Rễ L5 phụ trách vận động nhóm cơ chày trước, khi bị tổn thương, bệnh nhân sẽ khó gấp bàn chân về phía mu chân và rất khó đứng bằng gót chân. Rễ S1 chui qua lỗ gian đốt S1 – S2, chi phối cảm giác da dọc mặt sau đùi, mặt sau cẳng chân tới gót chân, gan bàn chân, ngón chân thứ ba, bốn và năm.

https://thoaihoacotsong.vn/benh-ve-xuong-khop-khac/chua-dau-vai-gay-bang-dien-chan/

Loading Facebook Comments ...